Sunday, April 29, 2007

Hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh!

Vào ngày cưới, tôi đã ôm vợ ra khỏi xe trên đôi tay của mình. Lúc đó, nàng là một cô dâu tròn trĩnh và e thẹn, còn tôi là một chú rể rất sung sức và tràn trề hạnh phúc.

Nhưng đó là cảnh của mười năm trước. Những chuỗi ngày sau đó cũng giản dị như một cốc nước tinh khiết: chúng tôi có con, tôi bước vào thương trường và cố gắng kiếm thật nhiều tiền. Khi của cải trong gia đình chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn cũng là lúc tình cảm giữa hai chúng tôi suy giảm dần.

Vợ tôi là một công chức nhà nước. Mỗi sáng chúng tôi cùng ra khỏi nhà với nhau và hầu như về nhà cùng một lúc. Con chúng tôi thì học tại một trường nội trú. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi nhìn bề ngoài hạnh phúc đến nỗi nhiều người phải ganh tị. Nhưng thật ra cuộc sống yên ấm đó gần như bị xáo trộn bởi những đổi thay không ngờ...

Dew đã bước vào cuộc đời tôi.

Đó là một ngày đầy nắng. Tôi đứng trước một ban công rộng lớn. Dew ôm vòng sau lưng tôi. Con tim tôi, một lần nữa, lại đắm chìm trong dòng suối yêu đương cùng nàng. Đây là căn hộ tôi mua cho cô ấy.

Dew nói: "Anh là mẫu đàn ông có sức cuốn hút với đàn bà nhiều nhất". Câu nói của Dew đột nhiên nhắc tôi nhớ đến vợ mình. Hồi chúng tôi mới cưới, nàng nói: "Mẫu đàn ông như anh, khi thành đạt sẽ rất quyến rũ với phụ nữ". Nghĩ đến lời nói đó của vợ mình, tôi thoáng do dự. Tôi hiểu mình đang phản bội lại nàng. Nhưng tôi đã không thể cưỡng lại chính mình.

Kéo tay Dew sang một bên, tôi nói: "Em đi mua mấy món đồ nội thất nhé? Anh có vài việc phải làm ở công ty". Hiển nhiên là nàng thất vọng rồi bởi vì tôi đã hứa sẽ cùng đi với nàng. Ngay lúc ấy, ý nghĩ phải ly hôn xuất hiện trong tâm trí tôi mặc dù trước đây ly hôn là một điều tưởng chừng không thể.

Nhưng tôi nhận ra khó mà mở lời với vợ về chuyện này. Cho dù tôi có đề cập nó một cách nhẹ nhàng đến đâu chăng nữa, cô ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Công bằng mà nói, cô ấy là một người vợ tốt. Tối nào, cô ấy cũng bận rộn chuẩn bị bữa ăn tối, trong khi tôi ngồi phía trước màn ảnh TV. Bữa ăn tối thường xong sớm. Sau đó, chúng tôi cùng xem TV. Không thì, tôi lại thơ thẩn bên máy tính, mường tượng thân thể của Dew. Đó là cách tôi thư giãn.

Một ngày nọ, tôi nửa đùa nửa thật nói với vợ tôi, "Giả dụ chúng ta phải ly hôn, em sẽ làm gì?". Cô ấy nhìn chằm chặp tôi phải đến vài giây mà không nói lời nào. Hiển nhiên cô ấy tin rằng ly hôn là một cái gì rất xa vời với cô ấy. Tôi không hình dung được vợ tôi sẽ phản ứng thế nào một khi biết rằng tôi đang nói nghiêm túc về chuyện đó.

Lúc vợ tôi bước vào phòng làm việc của tôi ở công ty thì Dew cũng vừa bước ra. Hầu như tất cả nhân viên ở văn phòng tôi đều nhìn vợ tôi với ánh mắt ra chiều thông cảm và cố giấu giếm chút gì đó khi nói chuyện với nàng. Vợ tôi dường như có nghe phong phanh vài lời bóng gió. Cô ấy chỉ mỉm cười dịu dàng với đám nhân viên, nhưng tôi đọc được nỗi đau trong đôi mắt ấy.

Một lần nữa, Dew lại nói với tôi: "Ninh, anh ly dị cô ấy đi? Rồi chúng mình sẽ cùng chung sống với nhau". Tôi gật đầu. Tôi biết mình không thể chần chừ thêm được nữa.

Khi vợ tôi dọn ra bàn chiếc dĩa cuối cùng, tôi nắm lấy tay cô áy. "Anh có điều này muốn nói với em", tôi nói. Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn.

Tôi lại nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt nàng. Đột nhiên, tôi không biết phải mở miệng như thế nào. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đang suy nghĩ thôi. "Anh muốn ly hôn". Cuối cùng thì tôi cũng đặt vấn đề hết sức nặng nề này một cách thật nhẹ nhàng.

Cô ấy tỏ ra không khó chịu lắm với lời tôi nói mà chỉ hỏi nhỏ "Tại sao?". "Anh nói thật đấy", tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Cái gọi là câu trả lời của tôi đã khiến cô ta giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi "Anh không phải là đàn ông!".

Đêm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Cô ấy khóc lóc. Tôi hiểu cô ấy muốn biết chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng tôi khó đưa ra được câu trả lời thỏa đáng bởi vì trái tim tôi đã nghiêng về Dew.

Trong tâm trạng tội lỗi tột cùng, tôi thảo đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần trong công ty tôi. Nhìn lướt qua tờ đơn, cô ấy xé nó ra từng mảnh. Tôi cảm thấy tim mình đau nhói. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt mười năm nay bỗng trở nên xa lạ chỉ trong một ngày. Nhưng, tôi không thể rút lại những lời đã nói.

Cuối cùng, điều tôi mong đợi đã đến. Cô ấy òa khóc trước mặt tôi. Tiếng khóc của cô ấy thực sự là liều thuốc an thần cho tôi. Ý định ly hôn dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ đây dường như càng trở nên rõ rệt và mạnh mẽ.

Trời khuya, tôi về nhà sau tiệc chiêu đãi khách hàng. Tôi nhìn thấy vợ tôi đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, tỉnh giấc, tôi thấy cô ấy vẫn ngồi viết. Tôi trở mình và ngủ tiếp.

Vợ tôi đưa ra điều kiện ly hôn: Cô ấy không cần bất cứ thứ gì của tôi, nhưng tôi phải cho cô ấy thời gian một tháng trước khi chính thức ly hôn; và trong thời gian một tháng đó, chúng tôi phải sống với nhau một cuộc sống bình thường. Lý do chỉ đơn giản vì: tháng sau con trai của chúng tôi sẽ kết thúc kỳ nghỉ hè và cô ấy không muốn nó phải chứng kiến cuộc hôn nhân của chúng tôi đổ vỡ.

Cô ấy đưa cho tôi thư thỏa thuận cô ấy soạn sẵn và hỏi: "Anh còn nhớ em đã vào phòng cô dâu trong ngày cưới như thế nào không?". Câu hỏi này chợt làm sống tại trong tôi tất cả những kỷ niệm tuyệt vời ngày ấy. Tôi gật đầu và nói: "Anh còn nhớ".

"Lúc đó, anh đã bế em trên đôi tay của anh", cô ấy tiếp tục, "do vậy, em có một yêu cầu là anh phải bế em ra vào ngày chúng ta ly hôn. Từ giờ đến hết tháng này, anh phải bế em từ giường ngủ đến cửa nhà mình vào mỗi sáng". Tôi mỉm cười đồng ý. Tôi biết cô ấy đang nhớ lại những chuỗi ngày ngọt ngào hạnh phúc và muốn cuộc hôn nhân của mình kết thúc lãng mạn.

Tôi kể cho Dew nghe về điều kiện ly hôn của vợ mình. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. "Cho dù cô ta có đưa ra mánh khóe gì chăng nữa, thì vẫn phải đối mặt với kết cục ly hôn mà thôi", cô ấy nói một cách khinh bỉ. Lời nói đó của Dew ít nhiều khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi tôi có ý định ly hôn. Chúng tôi đối xử với nhau như hai người xa lạ. Vì vậy ngày đầu tiên tôi bế cô ấy, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Đứa con trai vỗ tay theo sau chúng tôi: "Cha đang ôm mẹ trên tay". Lời nói của con trẻ làm tim tôi đau nhói. Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó mới đến cửa ra vào, tôi đã đi bộ trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, "Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay đừng nói gì cho con hay". Tôi gật đầu và cảm thấy chút gì đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt, còn tôi lái xe đến công ty.

Vào ngày thứ hai, chúng tôi "diễn" dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Chúng tôi quá gần nhau đến nỗi tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của nàng. Tôi nhận ra rằng đã lâu lắm rồi tôi không nhìn kỹ người phụ nữ thân yêu của mình. Tôi nhận ra vợ tôi không còn trẻ nữa. Đã xuất hiện một vài nếp nhăn trên gương mặt của nàng.

Ngày thứ ba, cô ấy thì thầm vào tai tôi: "Vườn ngoài kia đang bị xói mòn đấy. Anh cẩn thận khi đi qua đó nghe". Ngày thứ tư khi tôi nâng cô ấy lên, tôi có cảm giác chúng tôi vẫn còn là một đôi uyên ương khăng khít và tôi đang ôm người yêu trong vòng tay âu yếm của mình. Những tơ tưởng về Dew trở nên mờ nhạt dần.

Đến ngày thứ năm và thứ sáu, cô ấy tiếp tục dặn dò tôi vài thứ, nào là cô ấy để chiếc áo sơ mi vừa ủi ở đâu, nào là tôi phải cẩn thận hơn trong lúc nấu nướng. Tôi đã gật đầu. Cảm giác thân thiết, gần gũi lại trở nên mạnh mẽ nhiều hơn.

Nhưng tôi không nói với Dew về điều này. Tôi cảm thấy bế cô ấy dễ dàng hơn. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi mạnh mẽ hơn. Tôi nói với cô ấy: "Có vẻ bế em không còn khó nữa".

Vợ tôi đang chọn váy đi làm. Tôi thì đứng đợi để bế cô ấy. Cô ấy loay hoay một lúc nhưng vẫn không tìm ra chiếc váy nào vừa vặn cả. Rồi, cô ấy thở dài, "Mấy cái váy của em đều bị rộng ra cả rồi". Tôi mỉm cười. Nhưng đột nhiên tôi hiểu rằng thì ra cô ấy đã ốm đi nên tôi mới bế cô ấy dễ dàng, chứ không phải vì tôi mạnh khỏe hơn trước. Tôi biết vợ mình đã chôn giấu tất cả niềm cay đắng trong tim. Tôi lại cảm thấy đau đớn. Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay chạm vào đầu cô ấy.

Đúng lúc đó, thằng con chúng tôi chạy đến "Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi" - nó nói. Đối với nó, hình như nhìn thấy cha bế mẹ ra đã là một phần tất yếu trong cuộc sống của nó rồi. Vợ tôi ra hiệu cho nó lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng mình sẽ thay đổi quyết định vào phút chót.

Tôi ôm cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách, qua hành lang. Tay cô ấy vòng qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, tưởng tượng như chúng tôi đang trở về ngày tân hôn. Nhưng tôi thật sự buồn vì vợ tôi đã gầy hơn xưa rất nhiều.

Vào ngày cuối cùng, tôi thấy khó có thể cất bước khi ôm cô ấy trong vòng tay. Con trai chúng tôi đã lên trường. Vợ tôi bảo: "Thực ra, em mong anh sẽ ôm em trong tay đến khi nào chúng ta già". Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói: "Cả em và anh đã không nhận ra rằng cuộc sống của chúng mình từ lâu đã thiếu vắng quá nhiều những thân mật, gần gũi".

Tôi phóng ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi ý. Tôi bước lên tàu. Dew ra mở cửa. Tôi nói với cô ấy: "Xin lỗi, Dew, anh không thể ly hôn. Anh nói thật đấy".

Cô ấy kinh ngạc nhìn tôi. Sau đó, Dew sờ trán tôi. "Anh không bị sốt chứ", cô ấy hỏi. Tôi gỡ tay cô ấy ra. "Dew, anh xin lỗi", tôi nói. "Anh chỉ có thể xin lỗi em. Anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ tẻ nhạt vì cô ấy và anh không nhận ra giá trị của những điều bé nhỏ trong cuộc sống lứa đôi, chứ không phải bởi vì anh và cô ấy không còn yêu nhau nữa. Bây giờ, anh hiểu rằng bởi anh đưa cô ấy về nhà, bởi cô ấy đã sinh cho anh một đứa con, nên anh phải giữ cô ấy đến suốt đời. Vì vậy anh phải nói xin lỗi với em".

Dew như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và khóc nức nở. Tôi xuống cầu thang và lái xe đến thẳng công ty. Khi đi ngang tiệm hoa bên đường, tôi đặt một lẵng hoa mà vợ tôi yêu thích. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết lời chúc gì vào tấm thiệp. Tôi mỉm cười và viết "Anh sẽ bế em ra, vào mỗi sáng cho đến khi chúng ta già".

(theo lanhlungqua"s blog)

Chuyện học tập trong đời

Tuổi học của con người không dừng lại ở bất cứ lứa nào. Tớ không nghĩ là cụ già 70 tuổi cắp sách đến giảng đường đại học lại nhận được những cái nhìn ái ngại, chê bai của sinh viên tuổi teen, mà nếu có thì họ cũng đáng được bỏ qua, bởi vì họ cũng còn chưa học đến nơi đến chốn. Học đại học xong, thực tình đó mới chỉ là một cái móng tay của kiến thức mà nếu ta dùng bấm thì chỉ 1 loáng là nó lìa khỏi một ngón tay búp măng nào đó ngay!

Nền giáo dục của chúng ta có câu "học tập và làm việc", với cái mô hình có vẻ phân hoạch rõ rệt ấy, đa phần đều nghĩ là, học xong là phải đi làm!!! Hỡi trời, chả lẽ không ai giảng giải cho nó rõ hơn hay sao? Học tập cũng là một cách làm việc, bạn chẳng cần phải đi làm. Đây là sự thật, vì nếu để ý, học tập cũng là một nghề, một nghề cực kỳ thú vị.

Tớ có một anh bạn học từ bé, rồi cũng học cấp 3, học đại học, học thạc sỹ, rồi lại học tiến sỹ, rồi lại học bằng khác, rồi lại nghiên cứu và học tiến sỹ v.v... Nếu tính sơ sơ thì cứ theo cái kiểu đó, 40-50 tuổi vẫn còn lộ trình học tập nghiên cứu. Vậy, bạn sẽ hỏi thế sống bằng gì nếu không đi làm kiếm tiền? Bạn lầm! Anh bạn tớ nói là làm tiến sỹ chứ vẫn nghiên cứu, giảng dạy, đóng góp cho người ta thì hiển nhiên người ta trả tiền chứ đâu có để đi quét dọn mà làm doctor? Hic, đấy là ở nước ngoài, ở ta thì... Mà suy cho cùng, nghề học là nghề cao quý, vì không có ăn bám xã hội đâu, mà cuộc sống cũng đầy đủ nào thiếu thốn gì? Và sự nghiệp của nó chưa chắc đã thua kém sự nghiệp lao động và xây dựng!

Ấy, nhưng làm được nghề học được như thế phải có tài năng và sự cần cù (hic, dân Việt ta hình như nổi bật 2 đức tính này???).

Bây giờ hãy so sánh, đi học và đi làm, cái nào bạn thích hơn? 90% thích đi học hơn, vì đi học luôn là niềm sung sướng, không thể có những áp lực công việc, ông chủ khó tính, cơ quan trì trệ, đồng nghiệp kèn cựa v.v... nguyên nhân gây nên sự lặp lại và nhàm chán cho con người. So sánh này cũng là tương đối thôi, cũng có lúc đi làm thích hơn đi học.

Những ai còn đi học hãy nhớ tới những lời này của một người cha: "Con ạ, đằng nào thì sau khi học ra trường, con cũng sẽ làm việc trong môi trường lao động từ đó đến cuối đời, mà môi trường lao động khắc nghiệt hơn ghế nhà trường nhiều, vậy tội gì con không kéo dài cái việc học càng xa càng tốt?". Đúng vậy, đừng vội đi làm, trừ phi hoàn cảnh ép buộc. Hàng triệu người đang đi làm hiện đang mơ được đi học đấy.

Còn những ai đang đi làm thì có thể nhớ tới những "bí quyết" sau.

1. Không có đúng-sai. Chỉ có sự quyết định và lựa chọn. Chớ có cố chọn cái đúng (mà chủ yếu là do ta nghĩ là đúng, là hợp, là ngon) và quay mặt lại dè bỉu với cái mà ta nghĩ là sai. Đừng tưởng bạn học hết kỳ đại học là đúng mà câu bạn bỏ dở năm thứ hai là sai, đừng tưởng bạn hàng ngày cắm cúi sổ sách là tốt hơn một người ngồi hàng nước và làm thơ. Nghề máy tính chưa chắc đã hơn nghề sinh học hay vật lý nguyên tử, dù giờ này vật lý nguyên tử thì quá khó tìm việc làm. Và càng chưa chắc đã bằng bỏ học kinh doanh cafe với quán ăn.

Trong trường lớp, với một bài toán thì đúng và sai không thể cãi. Nhưng ngoài đời, ranh giới ấy mờ ảo, không phải đến một ngã ba ta rẽ đường này đúng, còn rẽ đường kia là sai và ngược lại. Đừng bao giờ thở ra câu" giá ngày ấy tớ đi học tiếp mà không đi làm" hoặc "giá ngày ấy tớ chọn cô ấy chứ không phải cô này", đó là suy nghĩ không mang lại gì tốt đẹp, vì khi đã nói giá mà, thì bạn không có năng lực thay đổi. Nếu bạn có gan bỏ làm để đi học lại, thì bạn chẳng nói hai cái chữ "giá mà" ấy. Hãy nghĩ là giờ ta đã chọn cô này rồi, ta có thể làm gì tốt hơn để mọi thứ tốt đẹp hơn?

Khi một người đồng nghiệp có ý kiến trái ngược ta, đừng vội nghĩ là ta đúng họ sai. Cười người hôm trước để làm gì?

2. Cuộc sống là không có công bằng. Không có là không có thật, dù tất cả xã hội đều hướng đến nó. Trên ghế nhà trường, hai sinh viên cùng làm đúng 10 câu thì cùng được 10 điểm, đó là công bằng, nhưng ngoài đời vĩnh viễn không có chuyện đó. Hai đồng nghiệp cùng hoàn thành 1 việc như nhau, vẫn có người hơn và người kém. Bởi vì chúng ta hết cái thời sống với barem điểm rồi và bản tính con người không tránh khỏi sự thiên vị, dù ta có nhận thấy hay không. Ngay cả hai đứa con của chính bạn, có chắc bạn đối xử và đánh giá chúng như nhau??? Vậy, ta phải chấp nhận thực tế đi làm là như vậy. Họ hơn ta vì họ nhỉnh hơn ta một chút, cái nhỉnh hơn ấy nó nằm ở chỗ khác, không nằm ở kết quả công việc.

Well, hehe, tớ viết bài này là vì... tớ vừa đi học một lớp ngắn hạn để củng cố vai trò của người quản lý. Giảng viên là một cô giáo dạy rất hay vì cô ấy có nhiều kinh nghiệm của gần 30 năm đi làm. Giờ đây, việc của cô ấy là tư vấn phát triển con người, hic... nghe kêu thế nhưng quả thực là một nghề hay.

Một nhà quản lý tốt, ngoài nhiệm vụ quản lý công việc ra còn phải quản lý con người. Quản lý công việc có quy trình giáo khoa, còn quản lý con người là một sự hiểu biết, khéo léo, nhạy bén và linh hoạt, có rất ít người làm được tốt phần này đó.

Cô ấy có nói một câu làm cảm hứng để viết entry này: "Tri thức của chúng ta hổng rất nhiều và có những chỗ trống đến khi chết cũng không có gì trong đó và sự trống rỗng này làm ta không thể bật lên cao vào môt thời điểm cần thiết. Vì thế dù bạn bao nhiêu tuổi và đang chuyên sâu lĩnh vực gì, học một cái khác luôn là điều cần thiết."

Tớ mới hỏi cô là bật lên cao là bật lên đâu? Cô giáo bảo: không phải chỉ là vị trí xã hội, mà là tất cả: một mối quan hệ, một chuyện tình cảm, một công việc làm ăn, một cuộc thi... Tớ nghĩ là phải, gọi chúng là "tiềm lực không bao giờ được kích hoạt" là hợp nhất. Chỉ vì không kiến thức mà thôi.

Thiên tài cũng như chúng ta

Mọi người đều đã nghe về một vị giáo sư nổi khùng hay một nhà khoa học đãng trí. Nhưng nhìn sâu vào những khiếm khuyết bình thường và bất bình thường của một vài bộ óc vĩ đại thì thấy rằng các thiên tài cũng giống hệt chúng ta.


Albert Einstein, người tìm ra thuyết tương đối, cặp kè với một người phụ nữ khác khi ông đã có vợ. Người vợ thứ 2 của ông lại là một người chị họ. Ông sống với cô 5 năm trước khi ly dị người vợ đầu tiên và với người vợ này họ cũng đã có con trước khi kết hôn.

Charles Darwin, cha đẻ của thuyết tiến hoá, lại rất đau đầu trong việc quyết định có nên cưới vợ hay không. Ông liệt kê ra mọi lợi hại của việc kết hôn, chẳng hạn như người vợ sẽ "tốt hơn một chú cún nhưng lại vô cùng gây lãng phí thời gian". Cuối cùng ông kết hôn ngay sau đó với một người vợ và họ chung sống cả đời.

Richard Feynman, nhà vật lý đoạt giải Nobel, người đã giúp phát triển nên bom nguyên tử và tìm ra nguồn gốc của vụ nổ tàu con thoi Challenger, thường xuyên đi xem thoát y vũ tại một hộp đêm gần nhà ở California. Ông giải quyết các công thức và bài giảng chủ yếu ở đó. Mỗi lần giải lao ông lại ngắm nhìn các vũ nữ và trêu ghẹo họ. Trong khi đó, người vợ, lúc này là thứ 3 của ông, hoàn toàn thoải mái với việc này.

Sigmund Freud, người công bố cơ chế của sự tiềm thức trong hàng loạt bài viết và nhìn chung là một người đàn ông tốt, đã lao vào một cuộc ẩu đả với đám bạn chỉ vì ám ảnh bởi tính quyền năng của mình.

Isaac Newton, người đưa ra 3 thuyết chuyển động và một thuyết trọng lực, đã lớn lên dưới sự nuôi dưỡng của bà nội sau khi người cha chết đi và mẹ ông tái hôn với một người đàn ông mà Newton vô cùng ghét.

Newton thường xuyên lao vào những cuộc cãi lộn và châm chích vô cớ với bạn bè và đồng nghiệp. Đến nửa quãng đời, ông từng phải làm hết việc này đến việc khác, trong đó có cả những công việc tầm thường ở Nghị viện.

Marie Curie, người phát hiện ra năng lượng phóng xạ, sống với chồng trong một ngôi nhà hầu như không có đồ đạc gì bởi bà là người rất ghét làm việc nhà. Trong khi cặp đôi nghiên cứu trong một nhà kho dột thì họ có rất ít tiền và chỉ tự thưởng thức bằng cách ngồi bên lò sưởi với một tách trà nóng. Sau này bà đã nhận được 2 giải Nobel.

Paul Erdos, một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ 20 và lập nền móng cho ngành khoa học vi tính, sống chỉ với một cái vali và hầu như không biết kiếm tiền. Ông nói rằng tài sản là một thứ phiền phức và chỉ sống dựa trên sự bố thí lương thực và quần áo từ bạn bè.

Nhân tài cũng giống như người thường ở chỗ tài năng phải được phát hiện và nuôi dưỡng thì mới thành tài được. Nói theo cách khác, những sở trường mà các nhà thiên tài có được, như khả năng toán học, nhận thức và sáng tạo, cần phải được nuôi dưỡng cả về tinh thần và vật chất, nếu không tài năng sẽ bị thui chột ngay từ bé.

"Những thiên tài khoa học lớn lên trong sự bần hàn là vô cùng hiếm. Nếu như ở Tây Âu có vẻ như nở rộ các thiên tài vào cuối thế kỷ 19 thì đó phần lớn là do một tầng lớp xã hội phát triển, một cuộc sống gia đình ổn định và những cơ hội ngàn năm có một cho cả đàn ông và đàn bà", tác giả viết.

Nguyên tắc đầu tư chứng khoán

Là một nhà đầu tư thành công, Benjamin Graham được xem như “ông thày của Wall Street” và cũng là người đi đầu trong chiến lược đầu tư theo giá trị. Warren Buffett, một nhà đầu tư đại tài và là người giàu thứ ba trên thế giới, trân trọng Benjamin Graham như là người có ảnh hưởng lớn thứ nhì đến nghề nghiệp của ông.

Xin đúc kết những chiến lược đầu tư của Benjamin Graham từ ba cuốn sách “Securities Analysis - Phân tích chứng khoán”, tác giả Benjamin Graham và David L. Dodd, “The Intelligent Investor - Nhà đầu tư thông minh”, tác giả Benjamin Graham, và “Benjamin Graham on Value Investing - Đầu tư giá trị theo trường phái Benjamin Graham” của tác giả Janet C. Lowe.

Phân tích chứng khoán

Theo Graham, phân tích chứng khoán khác hoàn toàn với phân tích thị trường.

Phân tích thị trường gồm hai trường phái: trường phái phân tích kỹ thuật dựa vào giá và khối lượng giao dịch và trường phái phân tích sự tác động của nền kinh tế và những yếu tố ngoại cảnh lên giá cổ phiếu. Cả hai trường phái này nghiên cứu và phân tích giá cổ phiếu mà không quan tâm gì đến những con số, chỉ số cơ bản của công ty.

Phân tích chứng khoán ngược lại, tìm hiểu những giá trị căn bản của công ty nhằm tìm ra intrinsic value - giá trị thật của công ty. Giá trị thật chính xác của một công ty là khó xác định, và mỗi người có một cách tính khác nhau, nhưng đó chính là yếu tố quan trọng để quyết định có nên đầu tư không.

Những người đầu tư thành công chỉ đầu tư vào những cổ phiếu có giá bán thấp hơn giá trị thật của cổ phiếu đó.

Ba tiêu chuẩn chính để đầu tư vào cổ phiếu

Cổ tức: Theo Benjamin Graham, một đồng cổ tức được chia ra sẽ đáng giá hơn nếu cổ tức đó được giữ lại tái đầu tư trong công ty và vì thế công ty trả cổ tức cao sẽ có giá cổ phiếu cao. Nhà đầu tư cần phải nghiên cứu quá khứ để dự đoán cách trả cổ tức của công ty trong tương lai. Graham không đánh giá cao việc chia cổ tức bằng cổ phiếu.

Lợi nhuận: Theo Graham, lợi nhuận của công ty đóng một vai trò rất quan trọng trong quyết định đầu tư. Tuy vậy, ông cảnh báo việc nhờ vào các thủ thuật kế toán, các công ty có thể điều chỉnh con số lợi nhuận để tạo ra số đẹp. Do đó nhà đầu tư nên nghiên cứu lợi nhuận trong thời gian dài: 3-5 năm trước và 3-5 năm sau, đặc biệt là phải dự đoán được xu hướng của đồ thị lợi nhuận.

Giá trị tài sản: Giá trị của tài sản có (chỉ tính tài sản hữu hình, không tính tài sản vô hình) chia cho số cổ phiếu là một thông số quan trọng cần quan tâm khi đầu tư. Chỉ số giá trị tài sản thuần ngắn hạn, tức là giá trị tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn là một thông số quan trọng thứ hai.

Ngoài ra nhà đầu tư nên nghiên cứu báo cáo tài chính để trả lời ba câu hỏi: Công ty có dòng tiền mặt đủ để hoạt động không? Giá trị tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho có đủ để trả nợ ngắn hạn không? Công ty có những số nợ đáo hạn lớn trong thời gian trước mắt hay không?

Nhà đầu tư thông minh

Benjamin Graham chia nhà đầu tư ra làm hai loại: nhà đầu tư phòng thủ và nhà đầu tư mạo hiểm.

Nhà đầu tư phòng thủ (defensive investors): Là nhà đầu tư không muốn mắc nhiều lỗi lầm. Họ mong muốn có một tỷ suất đầu tư vừa phải. Họ thường đầu tư 40% vào trái phiếu, và 60% còn lại vào những cổ phiếu an toàn. Một số nhà đầu tư thận trọng thậm chí hài lòng khi tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lạm phát.

Nhà đầu tư mạo hiểm (aggressive investors): Nhà đầu tư mạo hiểm chủ động tìm kiếm để đầu tư vào mọi cổ phiếu mà họ đánh giá là được bán với giá thấp hơn giá trị thật. Họ có xu hướng đầu tư vào các cổ phiếu của công ty có chỉ số kinh doanh hiệu quả hơn trung bình của thị trường, hoặc công ty đang tăng trưởng nhanh, hoặc cổ phiếu có giá thấp dưới giá phát hành. Thông thường họ sẽ mua khi thị trường chung đang bi quan (giá và giao dịch giảm) và bán khi thị trường lạc quan (giá và giao dịch tăng).

Một nguyên tắc quan trọng mà Benjamin Graham nhấn mạnh là nhà đầu tư mạo hiểm phải có bản lĩnh để thoát được sự hấp dẫn khi giá lên và sự sợ hãi khi giá xuống quá nhiều của thị trường. Nếu không thoát được, từ nhà đầu tư, họ sẽ bị biến thành nhà đầu cơ chứng khoán. Và theo ông, đầu cơ sẽ thất bại trên đường dài.

Nguyên tắc đánh giá cổ phiếu bằng khả năng sinh ra lợi nhuận

Theo nguyên tắc này, Benjamin chỉ dẫn nhà đầu tư cách tính chỉ số lợi nhuận dự đoán của công ty. Các bước như sau:

- Đánh giá lợi nhuận trung bình công ty trong thời gian năm năm, nhớ điều chỉnh những năm kinh doanh quá tốt và quá xấu.

- Điều chỉnh chỉ số lợi nhuận nếu như có những thay đổi về cơ cấu tài chính của công ty trong năm hiện tại.

- Nhân cho hệ số tối thiểu 8, tối đa 20.

- Điều chỉnh chỉ số lợi nhuận này dựa vào việc so sánh nó với giá trị tài sản có của công ty.

Quyết định đầu tư của nhà đầu tư thông minh sẽ tỷ lệ thuận với sự chênh lệch của chỉ số dự đoán lợi nhuận và giá của cổ phiếu.

5 cách để trở nên tự tin

Người ta thường nói: Tự tin là dành được 50% thành công, vì thế, tự tin là điều hết sức cần thiết để mỗi con người có thể dành được thành công trong cuộc sống, sự nghiệp... Có thể nói, tự tin có nghĩa là chúng ta tin tưởng vào chính bản thân mình, tin vào sự lựa chọn của chính mình, hài lòng với những thành quả và mối quan hệ mình đạt được.

Sau đây là 5 cách để bạn có thể tự tin hơn trong mọi tình huống:

1. Hãy vận động

Bạn nên chịu khó thả bộ. Bạn cũng có thể đạp xe và làm việc cho đến khi toát mồ hôi. Tập các bài tập cho não và phổi, điều này sẽ làm tăng sức mạnh thể lực, xóa bỏ mọi nỗi tức giận và khó chịu. Bạn sẽ cảm thấy mình dồi dào sinh lực, làm việc hiệu quả tự tin. Không có gì tuyệt vời hơn khi thấy bạn trong dáng vẻ nhanh nhẹn, khỏe mạnh hồng hào. Hãy ra khỏi ghế ngồi và tỏ ra năng động, mạnh mẽ.

2. Hãy quan tâm đến hình thức

Mọi người thường để ý đến điều này đầu tiên. Những gì bạn mặc đều thể hiện tính cách, sở thích, phong thái của bạn. Nếu bạn ăn mặc kệch cỡm, không thích hợp, đồng nghiệp sẽ đánh giá thấp bạn. Khi bạn để ý đến cách ăn mặc, bạn nên tự hỏi mình muốn mọi người hiểu mình là người như thế nào? mình muốn gây ấn tượng với những người nào? Chúng ta đang đề cập đến văn hóa thời trang hay chỉ là nhiều bộ quần áo kiểu cách; chúng ta đang muốn nói đến tính hiệu quả, sự phù hợp trong môi trường nhất định.

- Vậy các bạn nên lưu tâm đến 4 nhân tố sau:

+ Sự phù hợp: Dù bạn là ai thì bạn nên nhớ là cách ăn mặc của bạn cần phải luôn phù hợp với môi trường hoạt động.

+ Sạch sẽ: Hãy thận trọng với những loại máy giặt vì chúng có thể làm hỏng quần áo của bạn mà không biết. Hãy chú ý đến sự sạch sẽ gọn gàng, tránh quần áo tuột chỉ, hay quên cài cúc...

+ Giầy dép: Nên nhớ rằng mọi người đều rất để ý đến giày dép vì một lẽ họ hay nhìn xuống và hay lo lắng. Vậy bạn hãy luôn giữ cho đôi giày của mình sáng bóng, sạch sẽ.

+ Hãy luôn mỉm cười: Nụ cười tươi bừng sáng trên khuôn mặt sẽ làm cho chính bạn dễ chịu và làm cho người khác thoải mái, vui vẻ.

3. Hít thở



Cần phải biết giữ gìn và tự kìm nén, nín thở khi cần thiết. Hãy học cách hít thở sâu, điều này cần thiết để giúp bạn bình tĩnh, kiềm chế những cơn nóng giận. Hít thật sâu trong lồng ngực, đây là cái thở từ dạ dày.

4. Sống nguyên tắc

Giữ vững quan điểm của mình. Hãy đúng giờ và biết lo lắng đến trách nhiệm hiện tại. Không theo đuổi một mục đích không rõ ràng mà phải biết nhận thức và nắm cơ hội. Nhớ rằng mọi nguyên tắc đều có tác động rất lớn với các quan hệ nghề nghiệp (chuyên môn) cũng như các quan hệ cá nhân của bạn.

5. Cho và nhận

Hãy cho những gì bạn muốn nhận. Nếu bạn muốn được tôn trọng và yêu quý, hãy tôn trọng và yêu quý mọi người. Nếu bạn muốn thành công thì hãy giúp người khác thành công. Nếu bạn muốn vui vẻ hơn hãy cứ vui vẻ đi, hãy mở lòng mình, hãy tự công nhận những thành công của mình, hãy tự tạo ra niềm vui để tự tận hưởng niềm vui ấy. Bạn hãy luôn tự nhủ về công việc những việc này thật sẽ chẳng có gì là không thể làm được.

Những người tự tin nhất là những người sống đơn giản. Họ luôn làm cho cuộc sống có ý nghĩa.